Trụ sở chính

Số 35 Ngõ 293 Phố Tân Mai, P.Tân Mai, Q. Hoàng Mai, Tp. Hà Nội, Việt Nam

www.luatbadinh.vn

19006593

Văn phòng Đà Nẵng

Số 74 đường Bạch Đằng, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

www.luatbadinh.vn

19006593

Văn phòng Hồ Chính Minh

Tòa nhà Thuyền Buồm, tầng 5, 111 A Pasteur, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

www.luatbadinh.vn

19006593

10 văn bản luật sẽ có hiệu lực từ 2021.

12/11/2020

Năm 2021 ghi nhận là năm có hiệu lực của rất nhiều các văn bản pháp luật đáng chú ý. Dưới đây, Luật Bà Đình xin gửi đến quý khách hàng 10 văn bản Luật có hiệu lực từ 2021.

Nội dung tóm tắt bài viết

1. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp được thông qua ngày 10/6/2020. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021.

Luật có một số sửa đổi, bổ sung một số điều khoản. Qua đó, nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế của Luật Giám định tư pháp năm 2013. Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giám định tư pháp. Cụ thể một số thay đổi như sau:

  • Phạm vi giám định tư pháp.

Khoản 1 Điều 2 quy định về giám định tư pháp được trưng cầu, thực hiện ngay từ giai đoạn “khởi tố”. Khác với quy định thực hiện từ giai đoạn điều tra vụ án hình sự như quy định hiện hành. Sự thay đổi này nhằm đảm bảo tính thống nhất với quy định của pháp luật tố tụng. Đáp ứng nhu cầu giám định của hoạt động tố tụng.

  • Bổ sung quy định về “Phòng giám định hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao”.

Đây là tổ chức giám định tư pháp công lập mới có tính đặc thù, được bổ sung vào hệ thống tổ chức giám định kỹ thuật hình sự. Điều 12 đã bổ sung quy định về quy định này. Điều này đáp ứng kịp thời yêu cầu giám định  được thu thập ngày càng tăng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án nói chung; và các vụ án tham nhũng, kinh tế nói riêng. Ngoài ra, khoản 7 Điều 12 quy định:

“Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Phòng Giám định kỹ thuật hình sự thuộc Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn”

  • Sửa đổi quy định về kết luận giám định theo định hướng cụ thể hơn.

Thực tế, kết luận giám định tư pháp trong thực tiễn hiện nay còn bộc lộ rất nhiều hạn chế. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Điều 32 theo hướng kết luận giám định phải phù hợp với yêu cầu, nguyên tắc mang tính đặc thù.

Văn bản kết luận giám định phải rõ ràng, cụ thể về nội dung, chuyên môn của đối tượng cần giám định theo trưng cầu, yêu cầu giám định.

Lược bỏ các quy định sau:

Chứng thực chữ ký của người giám định theo quy định của pháp luật về chứng thực khi trưng cầu.

Yêu cầu giám định đích danh cá nhân người giám định.

Đồng thời, phân định rõ  trách nhiệm của người giám định, tổ chức cử người làm giám định trong việc ký, xác nhận chữ ký đối với người giám định trong bản kết luận giám định.

Hotline (Miễn phí tư vấn) 19006593

2. Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án.

Ngày 16/6/2020, Quốc hội khóa XIV đã biểu quyết thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. Một số điểm nổi bật của Luật này bao gồm:

  • Các trường hợp không thể tiến hành hòa giải.

Điều 19 quy định 07 trường hợp sẽ không thể tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Bao gồm:

Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

Những vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Người khởi kiện, bị kiện… đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt. Việc này không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hoặc không thể tham gia vì lý do chính đáng.

Một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.

Một trong các bên đề nghị không hòa giải, đối thoại.

Một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Luật đối thoại, hòa giải tại Tòa án có hiệu lực từ 2021
Luật đối thoại, hòa giải tại Tòa án có hiệu lực từ 2021
  • Bảo mật thông tin.

 Trong quá trình hòa giải, đối thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại. Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại. Chỉ trong trường hợp có sự đồng ý của bên đã cung cấp thông tin. Hòa giải viên, các bên tham gia hòa giải, đối thoại; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại mới được tiết lộ thông tin mà mình biết trong quá trình hòa giải, đối thoại.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng không được sử dụng lời trình bày của các bên trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc trừ các trường hợp: 

Bên trình bày đồng ý sử dụng lời trình bày của mình trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ; Phải sử dụng làm chứng cứ theo quy định của luật.

Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định nêu trên thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

  • Chi phí các bên phải nộp.

 Điều 9 Luật này quy định các khoản chi phí các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án phải nộp:

Pháp nhân, cá nhân nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch.

Chi phí phiên dịch tiếng nước ngoài.

Chi phí phát sinh khi tiến hành hòa giải, đối thoại khi các bên thống nhất chọn địa điểm hòa giải, đối thoại ngoài trụ sở Tòa án. Chi phí Hòa giải viên xem xét hiện trạng tài sản nằm ngoài phạm vi lãnh thổ của tỉnh nơi Tòa án có thẩm quyền giải quyết có trụ sở, trước khi Hòa giải viên lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.

3. Luật Thanh niên 2020.

Qua gần 15 năm thi hành, Luật Thanh niên năm 2005 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Chính vì vậy,  Quốc hội đã thông qua Luật Thanh niên năm 2020, thay thế Luật Thanh niên năm 2005. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.

Luật Thanh niên 2020 đã sửa đổi, bổ sung và có những điểm mới nổi bật. Cụ thể như:

  • Quy định cụ thể về trách nhiệm của thanh niên.

Luật thanh niên năm 2005 quy định 8 quyền, nghĩa vụ cơ bản của thanh niên, theo hướng quyền đi liền nghĩa vụ. Còn  điều 4 Luật thanh niên năm 2020 đã quy định khái quát về vai trò, quyền và nghĩa vụ của thanh niên. Bên cạnh đó, Chương II quy định trách nhiệm của thanh niên với Tổ quốc, Nhà nước, gia đình, xã hội và bản thân thanh niên.

Sự thay đổi này đã khắc phục sự chưa rõ ràng quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong Luật Thanh niên năm 2005. Nhấn mạnh trách nhiệm, sứ mệnh của thanh niên. Là cơ sở pháp lý định hướng cho thanh niên rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu nâng cao trách nhiệm đối với dân tộc, đất nước, xã hội, gia đình. Đặc biệt với chính bản thân thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

  • Chính sách của Nhà nước đối với Tổ chức thanh niên.

Chương IV Luật Thanh niên 2020 quy định về tổ chức thanh niên, ĐTNCSHCM, HLHTNVN, Hội sinh viên Việt Nam. Quy định trách nhiệm của tổ chức thanh niên, chính sách của nhà nước đối với tổ chức thanh niên.

Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức thanh niên tham gia xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật đối với thanh niên. Bảo đảm điều kiện để tổ chức thanh niên thực hiện các nhiệm vụ được Nhà nước giao. Hỗ trợ, tạo điều kiện để tổ chức thanh niên huy động thanh niên thực hiện chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội và các chương trình, dự án khác. Cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức hoạt động giám sát, phản biện xã hội trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật đối với thanh niên.

  • Luật hóa quy định về Tháng Thanh niên.

Điều 9 Luật Thanh niên 2020 đã có quy định về Tháng Thanh niên. Đây là tháng được tổ chức nhằm phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên. Thanh niên tham gia hoạt động vì lợi ích của cộng đồng, xã hội và vận động tổ chức, cá nhân đầu tư, phát triển thanh niên. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức hoạt động Tháng Thanh niên.

4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng.

Ngày 17-6-2020, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng. Luật có hiệu lực thi hành từ 2021. Một số điểm mới nổi bật của Luật này là:

  • Thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở.

Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định bước thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở để phê duyệt. Trừ trường hợp người quyết định đầu tư có quy định khác tại quyết định đầu tư xây dựng. Đối với các bước thiết kế còn lại, chủ đầu tư quyết định việc kiểm soát thiết kế theo hợp đồng với nhà thầu và quy định của pháp luật.

Công trình có ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng. Thì phải được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng thẩm tra thiết kế xây dựng về an toàn. Phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật làm cơ sở cho việc thẩm định. Chủ đầu tư phê duyệt bước thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở và được quyết định về phê duyệt các bước thiết kế còn lại.

  • Giấy phép xây dựng.

Luật mới lồng ghép thủ tục giấy phép xây dựng với thẩm định thiết kế. Các công trình thuộc đối tượng được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định thiết kế sau thiết kế cơ sở được miễn giấy phép xây dựng. Cơ quan chuyên môn phải đánh giá các nội dung của giấy phép xây dựng. Các công trình không phải thẩm định thiết kế xây dựng bởi cơ quan chuyên môn phải thực hiện cấp giấy phép xây dựng.

Hotline (Miễn phí tư vấn) 19006593

  • Đối tượng được miễn giấy phép xây dựng…

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng cũng bổ sung đối tượng được miễn giấy phép xây dựng. Điều kiện được miễn giấy phép xây dựng đối với công trình, nhà ở riêng lẻ ở nông thôn.

5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều được thông qua tại Kỳ họp thứ 9 – Quốc hội khóa XIV ngày 17/6/2020. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021. Một số điểm mới nổi bật của luật này bao gồm:

  • Bổ sung ngân sách Nhà nước cho phòng, chống thiên tai.

Ngân sách Nhà nước bảo đảm cho hoạt động phòng, chống thiên tai bao gồm: Ngân sách hàng năm, kế hoạch trung hạn, dự phòng ngân sách Nhà nước, Quỹ dự trữ tài chính (trước đây chỉ gồm ngân sách Nhà nước theo dự toán chi hằng năm và dự phòng ngân sách Nhà nước).

Ngân sách Nhà nước cho phòng, chống thiên tai được sử dụng cho xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch, điều tra cơ bản phòng, chống thiên tai. Đầu tư, xây dựng, tu bổ, nâng cấp công trình phòng, chống thiên tai. Hoạt động phòng, chống thiên tai. Hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý Nhà nước về phòng, chống thiên tai các cấp.

  • Bổ sung thêm 2 chính sách của Nhà nước trong phòng, chống thiên tai.

Ngoài 05 chính sách của Nhà nước trong phòng, chống thiên tai như quy định trước đây, Luật Phòng chống thiên tai sửa đổi đã bổ sung 02 chính sách mới. Bao gồm:

Ưu tiên bố trí nguồn lực xây dựng, triển khai các chương trình khoa học công nghệ trong phòng, chống thiên tai.

Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực cho người làm công tác phòng, chống thiên tai. Huấn luyện, cung cấp phương tiện, trang thiết bị và có chính sách cho lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã.

  • Sửa đổi, bổ sung tổ chức của Quỹ phòng, chống thiên tai.

Theo quy định mới, Quỹ phòng, chống thiên tai là quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách, được tổ chức ở Trung ương và ở cấp tỉnh. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập, quản lý Quỹ ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, quản lý Quỹ ở cấp tỉnh.

Đồng thời, Luật mới sửa đổi đã bổ sung nguyên tắc hoạt động của Quỹ phòng chống thiên tai như sau: Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả; quản lý, sử dụng đúng mục đích, kịp thời và phù hợp với quy định của pháp luật. Hỗ trợ cho các hoạt động phòng chống thiên tai mà ngân sách Nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu. Quỹ ở địa phương được chủ động sử dụng để hỗ trợ hoạt động phòng chống thiên tai trên địa bàn; Quỹ ở Trung ương chủ yếu được sử dụng khi có tình huống thiên tai khẩn cấp, thiệt hại nghiêm trọng và điều tiết giữa các địa phương, khu vực. 

Nguồn kinh phí Quỹ phòng, chống thiên tai được điều chuyển giữa Quỹ ở Trung ương và Quỹ ở địa phương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

6. Luật Doanh nghiệp.

Luật Doanh nghiệp 2020 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Luật có sửa đổi, bổ sung so với Luật doanh nghiệp 2014 một số quy định. Cụ thể:

  • Thời gian thông báo nếu muốn tạm ngừng kinh doanh.

Luật doanh nghiệp hiện hành quy định:

Chậm nhất 15 ngày trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh, doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản tới Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Khoản 1 Điều 206 Luật Doanh nghiệp năm 2020 rút ngắn thời hạn thông báo tạm ngừng kinh doanh xuống 03 ngày. Doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày tạm ngừng kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo.

  • Đặt tên địa điểm kinh doanh phải có tên doanh nghiệp.

khoản 2 Điều 40 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: khi luật doanh nghiệp mới có hiệu lực sẽ yêu cầu tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Địa điểm kinh doanh”. 

Tên địa điểm kinh doanh hiện nay quy định phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu.

  • Bỏ quy định “Báo cáo thay đổi thông tin của người quản lý doanh nghiệp”.

Luật Doanh nghiệp 2020 đã bãi bỏ quy định:

Doanh nghiệp phải báo cáo Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính trong thời hạn 05 ngày. Kể từ ngày có thay đổi thông tin về họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của những người sau:

Thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần;
Thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên;
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

Xem thêm: 

7. Luật Đầu tư.

Ngày 17/6/2020, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Đầu tư 2020, thay thế Luật Đầu tư 2014. Luật có hiệu lực thi hành từ 2021. Luật đầu tư 2020 có một số điểm mới nổi bật sau:

  • Cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ.

Kinh doanh dịch vụ đòi nợ đã bị loại khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Được chuyển vào Danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh Theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 6 Luật Đầu Tư 2020.

Luật đầu tư 2020 có hiệu lực từ 2021
Luật đầu tư 2020 có hiệu lực từ 2021
  • Bổ sung nhiều ngành, nghề ưu đãi đầu tư.

Luật Đầu tư 2020 bổ sung một số ngành, nghề ưu đãi đầu tư so với hiện nay, gồm: 

Giáo dục đại học.

Sản xuất các sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ.

Sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển.

Bảo quản thuốc, sản xuất trang thiết bị y tế.

Sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ tạo ra hoặc tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành.

  • Điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế tại Việt Nam.

Điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế tại Việt Nam là quy định mới. Luật quy định, chỉ khi đáp ứng đủ các quy định tại khoản 2 điều 24 Luật Đầu Tư. 

8. Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

Ngày 18/6/2020, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội chính thức thông qua Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Luật có hiệu lực thi hành từ 2021.

  • Lĩnh vực đầu tư.

05 lĩnh vực bao gồm:

Giao thông.

Lưới điện, Nhà máy điện. (trừ nhà máy thủy điện và trường hợp Nhà nước độc quyền theo quy định của Luật điện lực).

Thủy lợi, cung cấp nước sạch, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải.

Y tế, giáo dục – đào tạo.

Hạ tầng công nghệ thông tin.

  • Quy mô đầu tư.

Luật quy định quy mô tổng mức đầu tư tối thiểu để đầu tư theo phương thức PPP là 200 tỷ đồng.

Dự án ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, GDĐT: 100 tỷ đồng.

  • Phân loại dự án PPP và thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư.

Luật quy định việc phân loại dự án gắn với thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, gồm:

Quốc hội.

Thủ tướng Chính phủ.

Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan trung ương, cơ quan khác.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư là cấp quyết định quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư.

  • Hội đồng thẩm định dự án PPP.

Luật quy định Hội đồng thẩm định dự án PPP bao gồm:

Hội đồng thẩm định nhà nước.

Hội đồng thẩm định liên ngành.

Hội đồng thẩm định cấp cơ sở.

Hotline (Miễn phí tư vấn) 19006593

9. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ngày 18/6/2020, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Luật mới đã sửa đổi, bổ sung 51 điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015. Một số điểm mới đáng chú ý có thể kể đến như:

  • Bổ sung nhiều văn bản là văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Luật đã bổ sung các loại văn bản là văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như:

Nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch UBTƯMTTQVN.

Thông tư liên tịch giữa Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.

  • Sửa đổi, bổ sung quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong quy định thủ tục hành chính.

Luật đã bổ sung trường hợp cho phép địa phương được quy định thủ tục hành chính trong khi cần thiết. 

  • Sửa đổi thời gian thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Theo đó, thời gian thẩm định của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp được quy định nâng từ 10 ngày lên 15 ngày. Kể từ ngày cơ quan tư pháp nhận đủ hồ sơ thẩm định.

10. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội.

Ngày 19-6-2020, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội. Luật sẽ có hiệu lực vào năm 2021. Luật mới đã sửa đổi, bổ sung rất nhiều điều của Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành. Một số sự thay đổi là:

  • Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

So với quy định của Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành. Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định sau đây về nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH.

Điểm a khoản 3 Điều 43 đã bổ sung quy định UBTVQH hội quyết định, phê chuẩn số lượng và danh sách đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Đoàn đại biểu Quốc hội. Nhằm bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp tình hình thực tế của từng địa phương.

  • Bổ sung một khoản quy định về tiêu chuẩn đối với đại biểu Quốc hội.

Để bảo đảm tính chặt chẽ, đáp ứng thực tiễn, tránh xảy ra vi phạm trong quá trình bầu cử đại biểu Quốc hội. Luật đã bổ sung một khoản quy định về tiêu chuẩn quốc tịch đối với đại biểu Quốc hội. Khoản 1 Điều 22 đã quy định đại biểu Quốc hội có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.

  • Phiên họp của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Trách nhiệm tham gia phiên họp của các thành viên.

Phiên họp toàn thể phải có quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng, Ủy ban tham dự.

Báo cáo, nghị quyết, kiến nghị, các nội dung khác thuộc thẩm quyền quyết định của HĐDT, UB: Chỉ được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên tán thành.

Thành viên có trách nhiệm tham dự phiên họp theo triệu tập của Chủ tịch Hội đồng, Chủ nhiệm Ủy ban. Thảo luận và biểu quyết các vấn để xem xét tại phiên họp. 

Trường hợp không tham dự phiên họp thì phải có lý do chính đáng. Phải báo cáo và được sự đồng ý của Chủ tịch Hội đồng, Chủ nhiệm Ủy ban.

0/5 (0 Reviews)
Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích ?
Không